Giới thiệu chung
Phá thai tới 63 ngày bằng phương pháp nạo hút thai hay nong và nạo đã được thực hiện từ thập niên 60. Phá thai nội khoa trở thành một phương pháp thay thế để chấm dứt thai kỳ trong tam cá nguyệt đầu với prostaglandins vào đầu những năm 1970 và với các thuốc kháng progesterones vào những năm 1980. Các thuốc được nghiên cứu rộng rãi là prostaglandins đơn thuần, mifepristone đơn thuần, methotrexate đơn thuần, mifepristone kết hợp với prostaglandins và methotrexate kết hợp với prostaglandins.
Mục đích
So sánh các phương pháp phá thai nội khoa khác nhau trong ba tháng đầu.
Chiến lược tìm kiếm
Danh bạ các thử nghiệm đối chứng của Cochrane, MEDLINE và Popline được tra cứu một cách hệ thống. Danh sách các bài tham khảo tìm được cũng đã được tra cứu. Các chuyên gia của WHO/HRP cũng được liên hệ.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Các loại nghiên cứu thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên so sánh các phương pháp phá thai nội khoa khác nhau (Vd: thuốc đơn thuần, thuốc kết hợp), đường dùng, các phác đồ với các liều khác nhau, dùng thuốc đơn thuần hay kết hợp đều được xem xét. Các thử nghiệm được đánh giá về thu nhận nếu đảm bảo che giấu can thiệp, quy trình phân bổ và theo dõi thích hợp. Người tham gia là những phụ nữ có thai ba tháng đầu sử dụng phương pháp phá thai nội khoa. Các phương pháp phá thai nội khoa khác thực hiện lúc ba tháng đầu, so sánh với nhau hoặc với giả dược. Các kết cục bao gồm tử vong, sẩy thai không trọn, thủ thuật nạo hút lòng tử cung (như quy trình cấp cứu, hay không cấp cứu hoặc chưa xác định), thai còn tiếp tục phát triển, thời gian từ khi dùng thuốc cho tới khi sẩy thai (> 3-6 giờ), truyền máu, lượng máu mất (đo đạc hay đánh giá dựa trên lâm sàng ghi nhận giảm nồng độ hemoglobin), số ngày rong huyết, đau bụng do điều trị (do khách hàng than phiền hay đánh giá qua việc sử dụng thuốc giảm đau), việc sử dụng thêm thuốc gây co tử cung, sự hài lòng của khách hàng với phương pháp, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.
Thu thập và phân tích dữ liệu
Hai nhà tổng quan chọn các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên dựa vào các kết quả của chiến lược nghiên cứu đã mô tả ở trên. Các thử nghiệm được thu nhận vào tổng quan này được thực hiện độc lập sau khi áp dụng chiến lược nghiên cứu ở trên. Các thử nghiệm được đánh giá mức độ phù hợp với tiêu chuẩn chọn lựa và chất lượng nghiên cứu mà, chưa đánh giá về kết quả nghiên cứu. Bảng thu thập số liệu được thiết kế để tạo thuận lợi cho việc trích xuất số liệu. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Revman.
Kết quả chính
Ba mươi chín thử nghiệm được thu nhận trong tổng quan. Các kết cục hiệu quả dưới đây liên quan tới 'thất bại trong sẩy thai trọn' với phương pháp định dùng.
1) Phác đồ kết hợp mifepristone/prostaglandin: Mifepristone 600 mg so với 200 mg cho thấy có hiệu quả tương tự nhau trong sẩy thai trọn (4 thử nghiệm, RR 1,07; KTC 95% 0,87 đến 1,32). Misoprostol dùng đường uống ít hiệu quả hơn đường âm đạo (thất bại nhiều hơn) (RR 3,00; KTC 95% 1,44 đến 6,24) và hay gặp các tác dụng phụ như buồn nôn và tiêu chảy.
2) Mifepristone đơn thuần ít hiệu quả hơn so với phác đồ phối hợp mifepristone/prostaglandin (RR 3,76; KTC 95% 2,30 đến 6,15).
3) Tương tự, trong 5 thử nghiệm thu nhận so sánh prostaglandin với phác đồ kết hợp chỉ có một thử nghiệm cho thấy phác đồ phối hợp có hiệu quả cao hơn so với prostaglandin đơn thuần. Kết quả của các nghiên cứu này không được gọp chung nhưng RR của thất bại với prostaglandin đơn thuần là 1,4 đến 3,75 và KTC 95% cho thấy có ý nghĩa thống kê.
4) Trong một thử nghiệm so sánh gemeprost 0.5 mg với misoprostol 800 mcg, misoprostol có hiệu quả cao hơn (thất bại với gemeprost: RR 2,86; KTC 95% 1,14 đến 7,18).
5) Không có sự khác biệt khi sử dụng các liều chia nhỏ so với một liều duy nhất prostaglandin.
6) Phác đồ phối hợp methotrexate/prostaglandin: không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ thất bại trong gây sẩy thai trọn khi so sánh methotrexate dùng đường tiêm bắp so với dùng đường uống (RR 2,04; KTC 95% 0,51 đến 8,07). Tương tự như vậy, dùng prostaglandin sớm (vào ngày thứ 3) so với dùng muộn (vào ngày thứ 5) không có sự khác biệt đáng kể (RR 0,72; KTC 95% 0,36 đến 1,43). Một thử nghiệm so sánh ảnh hưởng của tamoxifen với methotrexate và không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả giữa hai nhóm.
Kết luận của tác giả
Đã có phương pháp phá thai nội khoa an toàn ( pha thai an toan ) và hiệu quả. Các phác đồ phối hợp thuốc hiệu quả hơn là các phác đồ đơn thuần. Ở các phác đồ phối hợp, liều mifepristone có thể được giảm xuống còn 200 mg mà không giảm hiệu quả đáng kể hiệu quả. Misoprostol đặt âm đạo hiệu quả hơn đường uống. Một số kết quả dựa vào những nghiên cứu nhỏ nên phần nào chưa chắc chắn. Hầu hết các thử nghiệm được thực hiện ở bệnh viện là nơi có các phương tiện hỗ trợ và dịch vụ cấp cứu tốt. Vì vậy chưa rõ liệu các kết quả này có thể áp dụng được ở những cơ sở thiếu nguồn lực là những nơi thiếu các dịch vụ ngay cả khi đã có sẵn thuốc
Theo : www.naothaiantoan.com
Phá thai tới 63 ngày bằng phương pháp nạo hút thai hay nong và nạo đã được thực hiện từ thập niên 60. Phá thai nội khoa trở thành một phương pháp thay thế để chấm dứt thai kỳ trong tam cá nguyệt đầu với prostaglandins vào đầu những năm 1970 và với các thuốc kháng progesterones vào những năm 1980. Các thuốc được nghiên cứu rộng rãi là prostaglandins đơn thuần, mifepristone đơn thuần, methotrexate đơn thuần, mifepristone kết hợp với prostaglandins và methotrexate kết hợp với prostaglandins.
Mục đích
So sánh các phương pháp phá thai nội khoa khác nhau trong ba tháng đầu.
Chiến lược tìm kiếm
Danh bạ các thử nghiệm đối chứng của Cochrane, MEDLINE và Popline được tra cứu một cách hệ thống. Danh sách các bài tham khảo tìm được cũng đã được tra cứu. Các chuyên gia của WHO/HRP cũng được liên hệ.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Các loại nghiên cứu thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên so sánh các phương pháp phá thai nội khoa khác nhau (Vd: thuốc đơn thuần, thuốc kết hợp), đường dùng, các phác đồ với các liều khác nhau, dùng thuốc đơn thuần hay kết hợp đều được xem xét. Các thử nghiệm được đánh giá về thu nhận nếu đảm bảo che giấu can thiệp, quy trình phân bổ và theo dõi thích hợp. Người tham gia là những phụ nữ có thai ba tháng đầu sử dụng phương pháp phá thai nội khoa. Các phương pháp phá thai nội khoa khác thực hiện lúc ba tháng đầu, so sánh với nhau hoặc với giả dược. Các kết cục bao gồm tử vong, sẩy thai không trọn, thủ thuật nạo hút lòng tử cung (như quy trình cấp cứu, hay không cấp cứu hoặc chưa xác định), thai còn tiếp tục phát triển, thời gian từ khi dùng thuốc cho tới khi sẩy thai (> 3-6 giờ), truyền máu, lượng máu mất (đo đạc hay đánh giá dựa trên lâm sàng ghi nhận giảm nồng độ hemoglobin), số ngày rong huyết, đau bụng do điều trị (do khách hàng than phiền hay đánh giá qua việc sử dụng thuốc giảm đau), việc sử dụng thêm thuốc gây co tử cung, sự hài lòng của khách hàng với phương pháp, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.
Thu thập và phân tích dữ liệu
Hai nhà tổng quan chọn các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên dựa vào các kết quả của chiến lược nghiên cứu đã mô tả ở trên. Các thử nghiệm được thu nhận vào tổng quan này được thực hiện độc lập sau khi áp dụng chiến lược nghiên cứu ở trên. Các thử nghiệm được đánh giá mức độ phù hợp với tiêu chuẩn chọn lựa và chất lượng nghiên cứu mà, chưa đánh giá về kết quả nghiên cứu. Bảng thu thập số liệu được thiết kế để tạo thuận lợi cho việc trích xuất số liệu. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Revman.
Kết quả chính
Ba mươi chín thử nghiệm được thu nhận trong tổng quan. Các kết cục hiệu quả dưới đây liên quan tới 'thất bại trong sẩy thai trọn' với phương pháp định dùng.
1) Phác đồ kết hợp mifepristone/prostaglandin: Mifepristone 600 mg so với 200 mg cho thấy có hiệu quả tương tự nhau trong sẩy thai trọn (4 thử nghiệm, RR 1,07; KTC 95% 0,87 đến 1,32). Misoprostol dùng đường uống ít hiệu quả hơn đường âm đạo (thất bại nhiều hơn) (RR 3,00; KTC 95% 1,44 đến 6,24) và hay gặp các tác dụng phụ như buồn nôn và tiêu chảy.
2) Mifepristone đơn thuần ít hiệu quả hơn so với phác đồ phối hợp mifepristone/prostaglandin (RR 3,76; KTC 95% 2,30 đến 6,15).
3) Tương tự, trong 5 thử nghiệm thu nhận so sánh prostaglandin với phác đồ kết hợp chỉ có một thử nghiệm cho thấy phác đồ phối hợp có hiệu quả cao hơn so với prostaglandin đơn thuần. Kết quả của các nghiên cứu này không được gọp chung nhưng RR của thất bại với prostaglandin đơn thuần là 1,4 đến 3,75 và KTC 95% cho thấy có ý nghĩa thống kê.
4) Trong một thử nghiệm so sánh gemeprost 0.5 mg với misoprostol 800 mcg, misoprostol có hiệu quả cao hơn (thất bại với gemeprost: RR 2,86; KTC 95% 1,14 đến 7,18).
5) Không có sự khác biệt khi sử dụng các liều chia nhỏ so với một liều duy nhất prostaglandin.
6) Phác đồ phối hợp methotrexate/prostaglandin: không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ thất bại trong gây sẩy thai trọn khi so sánh methotrexate dùng đường tiêm bắp so với dùng đường uống (RR 2,04; KTC 95% 0,51 đến 8,07). Tương tự như vậy, dùng prostaglandin sớm (vào ngày thứ 3) so với dùng muộn (vào ngày thứ 5) không có sự khác biệt đáng kể (RR 0,72; KTC 95% 0,36 đến 1,43). Một thử nghiệm so sánh ảnh hưởng của tamoxifen với methotrexate và không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả giữa hai nhóm.
Kết luận của tác giả
Đã có phương pháp phá thai nội khoa an toàn ( pha thai an toan ) và hiệu quả. Các phác đồ phối hợp thuốc hiệu quả hơn là các phác đồ đơn thuần. Ở các phác đồ phối hợp, liều mifepristone có thể được giảm xuống còn 200 mg mà không giảm hiệu quả đáng kể hiệu quả. Misoprostol đặt âm đạo hiệu quả hơn đường uống. Một số kết quả dựa vào những nghiên cứu nhỏ nên phần nào chưa chắc chắn. Hầu hết các thử nghiệm được thực hiện ở bệnh viện là nơi có các phương tiện hỗ trợ và dịch vụ cấp cứu tốt. Vì vậy chưa rõ liệu các kết quả này có thể áp dụng được ở những cơ sở thiếu nguồn lực là những nơi thiếu các dịch vụ ngay cả khi đã có sẵn thuốc
Theo : www.naothaiantoan.com



Post a Comment